Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

HAILELUIA







Thứ Tư, ngày 03 tháng 8 năm 2016

LỜI GIỚI THIỆU SÁCH DOCAT - GIÁO HUẤN XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI DÀNH CHO NGƯỜI TRẺ

Các bạn trẻ thân mến!
Đức Bênêđíctô XVI, vị tiền nhiệm của cha, đã trao cho chúng con cuốn “Giáo lý cho người trẻ” - YOUCAT. Giờ đây, cha cũng muốn giới thiệu cho chúng con một cuốn sách khác, đó là DOCAT, chứa đựng những Giáo huấn xã hội của Giáo hội.
Động từ tiếng Anh “to do” (hành động) là một phần của nhan đề này. Bởi vì DOCAT giúp chúng ta giải đáp cho câu hỏi: “What should we do?” (Chúng ta phải làm gì đây?); cùng với sách Tin Mừng, DOCAT sẽ như một “cuốn cẩm nang” giúp chúng ta trước hết thay đổi chính mình. Rồi đến thay đổi những người xung quanh chúng ta, và cuối cùng là thay đổi cả thế giới. Với sức mạnh của Tin Mừng, chúng ta có thể thực sự thay đổi thế giới!
Chúa Giêsu đã nói: “Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Đoạn Tin Mừng trên đã làm đánh động tâm hồn nhiều vị thánh. Thánh Phanxicô Assisi, Mẹ Têrêsa Calcutta nhờ đoạn Tin Mừng mà thay đổi cả cuộc đời của các ngài. Và như Chân phước Charles de Foucauld từng nhận định: “Trong toàn bộ sách Tin Mừng, không có lời nào tác động đến tôi và thay đổi sâu sắc cuộc đời tôi cho bằng lời: “Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Khi tôi suy ngẫm về những lời từ miệng Chúa Giêsu, lời Hằng Sống của Thiên Chúa. Cũng chính đôi miệng ấy đã phán truyền: “Này là mình Thầy, này là Máu Thầy”. Và rồi, tôi cảm nghiệm được rằng tôi được kêu gọi để theo đuổi và yêu mến Chúa Giêsu qua những người bé mọn.”.
Các bạn trẻ thân mến! Chỉ có việc hoán cải tâm hồn mới có thể khiến cho thế giới, nơi đang đầy dẫy chiến tranh và bạo lực, trở nên nhân đạo hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chúng ta phải nhẫn nại, đối xử công bằng, đối thoại, hòa nhập và liên đới với những người bất hạnh, nghèo túng và cùng cực; cũng có nghĩa là chúng ta phải biết cống hiến vô hạn, phải “yêu cho đến chết vì tha nhân”. Khi mà chúng con hiểu được điều đó một cách sâu sắc, thì như một Kitô hữu tận tâm, chúng con sẽ có thể thay đổi thế giới này. Thế giới ngày nay không thể tiếp tục con đường đang đi. Một Kitô hữu, nếu như thờ ơ trước những người nghèo khó nhất trong những người nghèo khó, thì người ấy không phải là một Kitô hữu đích thực!
Tại sao chúng ta không thể khiến cho cuộc cách mạng của tình yêu và công lý được “bùng nổ” ở nhiều nơi trên hành tinh đầy nỗi đau khổ này? Các giáo huấn xã hội của Giáo hội có thể giúp cho biết bao người! Dưới sự chỉ dẫn đầy kinh nghiệm của các vị Hồng Y Christoph Schönborn và Reinhard Marx, một nhóm đã khởi đầu công việc làm cho thông điệp giải phóng của Giáo huấn về xã hội của Giáo hội lôi cuốn sự chú ý của các bạn trẻ trên toàn thế giới. Họ đã cộng tác cùng các học giả nổi danh và cùng với nhiều bạn trẻ để thực hiện dự án này. Các bạn trẻ nam nữ Công giáo đã gửi những bức ảnh đẹp nhất của họ. Một số khác thảo luận về những đề tài, đặt ra các câu hỏi, ý kiến và soạn thành một văn bản hoàn chỉnh, thích hợp để hiểu được một cách dễ dàng. Giáo huấn xã hội gọi những việc làm này là “sự cộng tác”. Như thế, tự bản thân nhóm soạn thảo đã áp dụng ngay từ ban đầu một nguyên tắc quan trọng của Giáo huấn xã hội. Vì vậy, DOCAT thực sự là một khởi điểm tuyệt vời để giúp chúng ta hành động theo đức tin Kitô giáo.
Những gì được gọi là “Giáo huấn xã hội của Giáo hội Công giáo” ngày nay thực ra đã xuất hiện từ thế kỉ XIX. Cùng với sự công nghiệp hóa thế giới, một hình mẫu tư bản khắc nghiệt - một nền kinh tế phá hủy sự sống nhân loại xuất hiện. Các nhà tư bản vô trách nhiệm buộc những người sống ở nông thôn phải rơi vào tình trạng tồi tệ đến mức họ phải lao động cực lực trong các mỏ than hay trong những nhà máy hoen gỉ chỉ để kiếm được đồng lương không đủ sống. Còn trẻ em trong một thời gian dài không được nhìn thấy ánh sáng, các em bị lén lút gửi đến những mỏ than để làm công việc kéo than như một người nô lệ. Các Kitô hữu đã ra sức giúp đỡ nhưng họ thấy rằng như thế thì vẫn chưa đủ. Vì thế, những tư tưởng chống lại bất công xã hội đã dần hình thành ngay trong đời sống chính trị và xã hội. “Rerum Novarum” (Tân Sự) – một thông điệp viết về “Tư bản và Lao động” của Đức Giáo hoàng Lêô XIII, ra đời năm 1891, đã và vẫn là bản tuyên ngôn nền tảng về Giáo huấn xã hội của Giáo hội. Ngài đã viết một cách rõ ràng và xác đáng: “Cướp công mồ hôi của công nhân là tội ác thấu trời.”. Với trách nhiệm to lớn, Giáo hội đã đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.
Vì nhu cầu của thời đại, qua nhiều năm, Giáo huấn xã hội của Giáo hội Công giáo ngày càng trở nên phong phú và hoàn thiện. Đồng thời, ngày càng có nhiều cuộc thảo luận về đời sống của cộng đồng, về công lý, hòa bình, và lợi ích chung. Người ta đã tìm được những nguyên tắc về nhân vị, về sự liên đới và bổ trợ, mà ngay trong DOCAT cũng có giải thích. Giáo huấn xã hội thực ra không bắt nguồn từ cá nhân vị giáo hoàng hay học giả nào nhưng nó bắt nguồn ngay từ chính trọng tâm của Tin Mừng. Nó bắt nguồn ngay từ chính Chúa Giêsu bởi vì Chúa Giêsu là Giáo huấn xã hội của Thiên Chúa.
“Một nền kinh tế giết chóc!” - Đó là điều mà cha đã viết trong Tông huấn “Evangelii Gaudium” (Niềm vui Tin Mừng), bởi vì ngày nay nền kinh tế loại trừ và bất bình đẳng thu nhập vẫn còn tồn tại. Có những quốc gia có đến bốn mươi hoặc năm mươi phần trăm bạn trẻ gặp phải tình trạng thất nghiệp. Ở nhiều quốc gia, người lớn tuổi bị gạt ra bên lề vì họ bị xem như “mất giá trị” và “không còn khả năng sản xuất”. Biết bao vùng đất trải dài rộng lớn nhưng không một bóng người bởi người nghèo, họ đã tìm đến những khu ổ chuột trong các thành phố lớn với hy vọng tìm được chút gì còn lại để sống qua ngày. Các phương thức sản xuất của một nền kinh tế toàn cầu hóa đã tàn phá những cơ cấu kinh tế khiêm tốn gắn liền với đời sống nông nghiệp ở ngay chính quốc gia của họ. Hiện nay, khoảng 1% dân số thế giới nắm giữ 40% trong toàn bộ khối lượng tài sản của thế giới, và có 10% dân số thế giới sở hữu đến 85% tài sản. Trái lại, chỉ có 1% khối tài sản của thế giới này thuộc về một nửa dân số còn lại. Khoảng 14 triệu người phải sinh hoạt với ít nhất chưa đến 1 euro (xấp xỉ 75 xu) mỗi ngày.
Khi cha mời gọi chúng con hãy sẵn sàng để học hỏi Giáo huấn xã hội của Giáo hội, cha không chỉ mơ ước sẽ có một nhóm nhỏ các bạn trẻ ngồi dưới những tán cây và cùng thảo luận. Điều đó thật tốt! Hãy cố gắng phát huy! Nhưng ước mơ của cha còn lớn hơn thế: cha mong ước cha sẽ có được một triệu bạn trẻ Kitô hữu, và còn hơn nữa, là cả một thế hệ những người đồng trang lứa cùng “đi và nói về Giáo huấn xã hội”. Không gì khác có thể thay đổi thế giới này mà chính những ai biết đồng hành với Chúa Giêsu dấn thân vào thế giới, cùng với Ngài đến với người bị gạt ra bên lề xã hội và đi vào giữa những ai bị coi là “bẩn thỉu” trong xã hội. Hơn nữa, chúng con còn phải biết đi vào đời sống chính trị và đấu tranh vì công lý và phẩm giá con người, đặc biệt cho những người nghèo khổ nhất. Tất cả chúng con là Giáo hội. Hãy chắc chắn rằng Giáo hội sẽ được biến đổi, hãy làm cho Giáo hội luôn sống động, bởi vì chính Giáo hội muốn đặt mình vào cuộc thử thách giữa những tiếng khóc than của người bị tước quyền làm chủ cuộc đời mình, giữa những tiếng van xin của người nghèo túng và bị bỏ rơi.
Bản thân chúng con phải tích cực và chủ động hơn nữa. Bởi khi có nhiều người cùng hành động với nhau, thế giới này sẽ trở nên tốt đẹp hơn và người ta nhận ra chính Thần Khí Chúa đang hoạt động qua chúng con. Và rồi, chúng con có thể trở thành những ngọn đuốc chiếu sáng con đường dẫn những con người này đến với Thiên Chúa.
Giờ đây, cha trao cho chúng con quyển sách nhỏ này, với ước mong được thắp lên ngọn lửa cháy sáng trong lòng chúng con. Cha sẽ cầu nguyện hằng ngày cho chúng con. Hãy cầu nguyện cho cha nữa.

Thân ái,
Phanxicô

6/11/2015

Alleluia có nghĩa là gì

Alleluia là một thành ngữ gốc Do thái, ghép bởi hai từ “hallelu” (hãy ngợi khen, động từ hillel) và “jah” (Giavê, Thiên Chúa). Như vậy, alleluia có nghĩa là “hãy ngợi khen Chúa”. Nên biết là bản dịch Kinh thánh sang tiếng Hy-lạp và tiếng La-tinh đã để nguyên văn Do thái chứ không dịch nghĩa (aineite ton Kyrion; laudate Dominum) cũng tựa như đối với từ ngữ Amen. Cả hai tiếng “Amen” và “Alleluia” đều là công thức phụng vụ. Amen khẳng định niềm xác tín, chấp nhận lời Chúa; Alleluia mang tính cách tôn vinh chúc tụng.

Người Do thái hát Alleluia vào dịp nào?

Thật khó biết được công thức Alleluia được sử dụng từ hồi nào. Điều đáng ghi nhận hơn cả là Alleluia gặp thấy trong một số thánh vịnh, được đặt tên là những “thánh vịnh Hallel” (từ 113-118, theo lối đánh số của bản Do thái). Một nhận xét khác là nói chung alleluia thường được đặt ở đầu các thánh vịnh vừa nói, nhưng có khi ở cuối thánh vịnh (các tv 115; 117), có khi cả ở đầu cả ở cuối (thí dụ 113). Ngoài ra, alleluia cũng gặp thấy kể cả bên ngoài loạt các thánh vịnh Hallel (chẳng hạn các thánh vịnh 105-106; 111-112; 135- 136; và nhất là sáu thánh vịnh cuối cùng, từ 146 đến 150). Có lẽ người Do thái còn hát Alleluia vào các dịp khác nữa chứ không hẳn là lúc đọc thánh vịnh, như ta thấy nói đến ở sách Tôbia (13,18): “Các cửa thành vang tiếng ca hoan hỷ, mọi nhà sẽ cùng hát: ‘alleluia, chúc tụng Thiên Chúa là Đấng Israel tôn thờ’!”.

Như vậy khi hát Alleluia, các Kitô hữu chỉ lặp lại một tập tục của người Do thái thôi hay sao?

Thiết tưởng cần phân biệt nhiều chặng: trước tiên, trong đời đức Giêsu; kế đến, trong Hội thánh tiên khởi; và chặng thứ ba trong phụng vụ. Trước hết, nếu xét trong cuộc đời của đức Giêsu thì chắc rằng Người đã hát alleluia nhiều lần khi tham dự phụng vụ với đồng bào của mình. Các sử gia đã lưu ý đặc biệt tới trình thuật thiết lập bí tích Thánh thể dựa theo Phúc âm nhất lãm, trong khung cảnh của một bữa tiệc Vượt qua, trong đó Phụng vụ Do thái hát các thánh vịnh Hallel đã nói trên đây (113-118 và 135).

Sang giai đoạn hai (nghĩa là Hội thánh tiên khởi), rất có thể các tín đồ gốc Do thái cũng hát các thánh vịnh Hallel vào lúc cử hành Thánh thể, vì muốn lặp lại cử chỉ của Chúa Giêsu. Dù sao, trong Tân ước, ta thấy lời chúc tụng Alleluia xuất hiện trong một bối cảnh khác, đó là bài ca khải hoàn trên thiên quốc được ghi lại trong sách Khải huyền chương

19. Lời Alleluia được vang lên 4 lần như điệp khúc (câu 1.3.4.6). Thật khó mà xác định được đây chỉ là một thị kiến của thánh Gioan, hay là phản ánh của một buổi cử hành phụng vụ Kitô giáo. Dù sao thì ngày nay, đoạn văn này trở thành thánh ca giờ kinh chiều Chúa nhật ngoài mùa Chay.

Từ hồi nào alleluia được đưa vào phụng vụ Kitô giáo?

Chúng ta không nên quan niệm phụng vụ Kitô giáo hoàn toàn bắt đầu từ con số không. Như đã nói trên, Chúa Giêsu và các tông đồ đã nhiều lần đọc các thánh vịnh dựa theo truyền thống Do thái, trong đó có nhiều thánh vịnh alleluia. Do đó, ta có thể suy ra là ngay từ đầu các lời chúc tụng alleluia đã đi vào phụng vụ Kitô giáo qua ngỏ các thánh vịnh. Điều này càng rõ hơn khi đọc tác phẩm các giáo phụ viết từ thế kỷ IV. Thánh Athanasiô, Basiliô, Grêgôriô Nyssa bắt đầu viết những khảo luận về ý nghĩa alleluia khi chú giải các thánh vịnh Hallel. Đến khi đời đan tu thịnh hành, người ta thấy nhiều khoản luật ấn định việc sử dụng alleluia trong các thánh vịnh, nghĩa là alleluia được thêm vào hết mọi thánh vịnh cho dù trong nguyên bản Do thái không có. Một thí dụ điển hình là luật thánh Biển đức dành hẳn một chương 15 để ấn định khi nào đọc alleluia: trong mùa Phục sinh, alleluia được thêm vào hết các thánh vịnh và đáp ca; ngoài mùa Phục sinh, thì thêm alleluia vào 6 thánh vịnh chót của giờ Kinh Đêm, và nếu là Chúa nhật thì thêm vào các thánh vịnh giờ kinh Sáng.

Alleluia được gắn liền với các thánh vịnh trong phụng vụ các giờ kinh. Còn trong Thánh lễ thì sao?

Dựa theo sự nghiên cứu của cha Martimort, từ thế kỷ IV, alleluia đã được hát trong thánh lễ ở nghi thức rước sách Phúc âm. Việc công bố Phúc âm tượng trưng Chúa Kitô hiện diện giữa cộng đoàn để giảng dạy. Vì thế mọi người đứng lên chăm chú lắng nghe. Do đó, việc rước sách Phúc âm được kèm theo nhiều nghi thức long trọng, với các giúp lễ cầm đèn, xông hương, đang khi cộng đoàn tung hô alleluia. Ra như phụng vụ muốn diễn tả lại nghi thức nhân dân thành phố Giêrusalem đón rước đức Giêsu vào thành, và nhất là đoàn rước trên thiên quốc được mô tả trong sách Khải huyền. Lời chúc tụng Alleluia được đệm thêm với những câu thánh vịnh hoặc những đoạn Kinh thánh, tạo nên một bài ca. Tập tục này còn được lưu giữ trong phụng vụ ngày nay, bên Tây phương cũng như bên Đông phương. Dần dần, ngoài lời chúc tụng trước khi đọc Phúc âm, alleluia cũng được thêm vào các bài ca nhập lễ, ca hiệp lễ nữa.

Nếu alleluia  lời chúc tụng Chúa, thì tại sao lại không được sử dụng trong mùa Chay? Đâu phải là mùa Chay thì miễn chúc tụng Chúa đâu?

Đúng vậy, ta phải chúc tụng Chúa luôn luôn, mọi nơi mọi lúc. Đó cũng là quan niệm của Phụng vụ bên các Giáo hội Đông phương: họ hát alleluia quanh năm. Nhưng bên Tây phương thì lại khác. Tại sao vậy? Các sử gia đưa ra giả thuyết như sau. Mặc dù trong nguyên ngữ Do thái “alleluia” chỉ có nghĩa là “hãy chúc tụng Chúa”, nhưng khi được chuyển sang văn hóa La-tinh thì nó mang một sắc thái khác, đó là nó biểu lộ sự vui mừng. Tại Rôma cho đến thế kỷ V, alleluia chỉ được hát vào lễ Phục sinh hoặc tối đa là cho đến hết mùa Phục sinh. Tập tục này cũng được áp dụng ở Bắc Phi, như ta thấy ở các bài giảng của thánh Augustinô. Mùa Chay là thời đền tội, và các tín hữu quỳ gối khi cầu nguyện; còn mùa Phục sinh là thời kỳ hoan hỉ, và các tín hữu đứng khi đọc kinh, miệng hát alleluia. Đang khi đó, các nơi khác bên Tây phương không biết đến tập tục đó, và họ hát alleluia quanh năm cũng y như bên Đông phương. Nhưng khoảng cuối thế kỷ VIII, tập tục Rôma thắng thế, alleluia được dành cho mùa Phục sinh, và tuyệt đối cấm hát trong mùa chay. Và phụng vụ Rôma trước đây có nghi thức tiễn biệt và đón rước Alleluia. Trước khi ngưng hát alleluia (kể từ Chúa nhật 70) ca đoàn hát một điệp ca đệm nhiều lời alleluia. Và đêm Vọng Phục sinh, thì phó tế lên giảng đài trịnh trọng xướng ba lần ca khúc alleluia loan báo cho toàn dân tin mừng Alleluia: “Adnuntio vobis, reverendissime Pater, gaudium magnum quod est Alleluia”. Cũng vì Alleluia tượng trưng cho niềm vui, cho nên trước đây, người ta không hát trong lễ an táng hoặc cầu cho người chết.

Trên thực tế, ngày nay phụng vụ chỉ hát alleluia trong mùa phục sinh mà thôi hay sao?

Không phải thế. Trong Thánh lễ, alleluia được xướng lên như bài ca chúc tụng trước khi đọc Phúc âm suốt năm, chỉ trừ mùa Chay. Trong mùa Phục sinh, thì alleluia được thêm vào các đáp ca, điệp xướng, ca nhập lễ vân vân. Đó là nói đến các bản văn phụng vụ chứ không thể kể hết những thánh ca bình dân hoặc các bản trường ca (tựa như Messiah của Handel viết năm 1741). Dù sao đi nữa, khía cạnh vui tươi khi hát alleluia không chỉ tùy thuộc cung điệu của các nhạc sĩ hoặc tài nghệ của ca đoàn, nhưng tùy thuộc rất nhiều vào tâm hồn của ta. Khi tâm hồn ta đang buồn rười rượi, thì có tham dự cả chục đại nhạc hội, ta vẫn buồn như thường, phương chi là hát alleluia! Đây là một nhận xét rất tinh tế của thánh Augustinô trong nhiều bài giảng Phục sinh. Phụng vụ Phục sinh biểu lộ niềm tưng bừng hoan hỉ của biến cố Chúa Phục sinh. Nhưng thử hỏi: trên cõi đời này làm gì có niềm vui trọn vẹn, bởi vì tâm hồn chúng ta luôn bị ám ảnh bởi bao nỗi lo âu buồn phiền. Liệu tiếng hát alleluia có trở thành giả dối không? Thánh nhân trả lời thế này. Nói cho đúng, chỉ có các thiên thần và các thánh nhân trên trời mới có thể hát alleluia cách trọn vẹn, bởi vì các ngài có thể ca ngợi Thiên Chúa suốt ngày đêm và nhất là các ngài không còn bận tâm lo lắng gì nữa. Chúng ta hát alleluia với niềm khao khát sẽ cùng được thông phần hoan hỉ với các ngài (sermo 252,9). Alleluia trở nên bài ca hy vọng tin tưởng, khi biết rằng Chúa Kitô đã cứu chuộc chúng ta, và hứa ban cho chúng ta hạnh phúc vĩnh cửu (sermo 254,5). Dù sao đi nữa, chúng ta không phải chỉ hát bằng lời ca nhưng còn bằng cuộc đời. Alleluia có nghĩa là “hãy ngợi khen Chúa”. Chúng ta hãy ngợi khen bằng cuộc sống và miệng lưỡi, bằng con tim và bằng đôi môi, bằng tiếng hát và bằng nếp sống. Chúa muốn chúng ta hát alleluia cho thật hoà điệu chứ đừng hát ngang cung. Vì thế hãy để cho lưỡi hợp điệu với nếp sống, môi miệng hợp với lương tâm. Như đã nói, chỉ có trên trời mới có hợp điệu tuyệt đối, chứ ở dưới trần này, lương tâm ta áy náy đủ chuyện: nào là sai lỗi, nào là chước cám dỗ, và vì thế ta phải cầu nguyện: “Xin Cha tha nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Dù vậy, thưa anh em, dù giữa bao sự dữ, ta hãy cứ hát alleluia đi, bởi vì Thiên Chúa tốt lành và tha thứ tội lỗi chúng ta, và cứu chúng ta khỏi mọi sự dữ. Sự dữ nào? Bệnh tật ư? Tù ngục ư? Không phải thế đâu. Bạn nghĩ cho kỹ đi: sự dữ gì làm bạn sợ nhất? Có phải là cái chết không? Nhưng anh em có biết rằng Chúa đã cứu thân xác anh em khỏi chết hay không? Sự dữ đáng sợ nhất mà ta không còn lo nữa, thì phải sợ cái gì? Các chước cám dỗ ư? Lo gì, Thiên Chúa là Đấng tín trung, Ngài không để cho anh em bị thử thách quá sức của mình đâu; trái lại, Ngài còn ban cho anh em sức mạnh để vượt qua cơn thử thách nữa. Vì thế anh em hãy hát alleluia đi, hát giống như những người lữ hành, vừa đi vừa hát, hát để an ủi nhau giữa lúc lao nhọc, hát để khích lệ nhau nuôi dưỡng niềm hy vọng có ngày sẽ tới nơi an nghỉ. Nhưng vừa hát vừa lên đường, chứ đừng dừng lại, trở lui, hay rẽ ngang (Sermo 256,3).





Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

SỐNG SAO ĐỂ ĐƯỢC CHÚC PHÚC

NGÀY 7-9-2016 

THỨ TƯ SAU CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN C

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 6, 20-26)
20 Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói:"Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.21 "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng."Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. 22 "Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.24 "Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.25 "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói."Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.26 "Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.

SUY NIỆM

Sống ở trên đời, không ai là không có khao khát và không muốn đi tìm hạnh phúc, vì hạnh phúc là mối bận tâm sâu thẳm nhất của con người. Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng nên con người để con người đi tìm hạnh phúc cho mình. Nhưng câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có hạnh phúc đích thật?

Người ta thường đi tìm hạnh phúc nơi những nụ cười, nơi những cuộc giải trí, nơi tiền của, sự giàu sang, nơi những thú vui thể xác … nhưng cuối cùng đó cùng chỉ là hạnh phúc giả tạo, và không bao giờ thỏa mãn được khao khát sâu thẳm nơi con người. Vậy mà nhiều người vẫn mê muội đi tìm hạnh phúc bằng những con đường đó.

Chúng ta nên biết rằng, Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người, và Ngài đã đặt sự khao khát đó nơi sâu thẩm con người, nên chỉ duy có Thiên Chúa mới làm cho thỏa mãn như cầu đó. Những mối phúc Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay chính là con đường dẫn chúng ta cảm nếm được hạnh phúc đích thật, hạnh phúc của Chúa ban tặng ngay ở đời này. Để có thể sống được các mối phúc của Chúa, thì trước hết phải có lòng tin mạnh mẽ và tình yêu mãnh liệt đối với Chúa, và sau đó là lòng mến đối với tha nhân. Mẹ Têrêsa đã chia sẻ rằng: "Chúng ta có quyền được hạnh phúc và bình an. Chúng ta được dựng nên vì điều này, được sinh ra để hạnh phúc và chúng ta chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc thật và bình an thật trong cuộc tình với Thiên Chúa: có niềm vui khi yêu thương Thiên Chúa, có hạnh phúc lớn lao khi yêu thương Ngài … "Chúng ta không cần tìm kiếm hạnh phúc: nếu chúng ta yêu thương người khác chúng ta sẽ được hạnh phúc. Đó là quà tặng của Thiên Chúa".

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con những con đường phải đi để có được hạnh phúc đích thật, và Chúa đã đi trước để nêu gương cho chúng con thấy. Xin giúp mỗi người chúng con luôn cảm nhận được hạnh phúc Chúa ban khi chúng con nổ lực sống các mối phúc của Chúa với tất cả tình yêu Chúa và tha nhân. Amen.


SỐNG SAO ĐỂ ĐƯỢC CHÚC PHÚC

Đã làm người ai cũng mong sao cho mình được hạnh phúc và người ta quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Có người cho rằng có hiểu biết, trí tuệ là có hạnh phúc; người khác lại bảo có sức khỏe, tiền bạc…là hạnh phúc.

Ta vẫn thấy Phúc -  Lộc -  Thọ là những lời cầu chúc tốt đẹp theo truyền thống người Việt Nam, nó luôn có giá trị và được mọi người tôn trọng. Với tôn giáo, vào thời xa xưa, Kinh Thánh thường kể về những con người được Thiên Chúa chúc phúc, họ là những người học biết đường công chính, vâng giữ lệnh truyền của Thiên Chúa, và sau này chính bản thân họ trở thành mối phúc cho nhiều người khác. Tổ phụ Abraham chỉ biết trọn niềm phó thác vào lời hứa của Thiên Chúa, không chút từ nan hay nghi ngờ, luôn sẵn sàng bước đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Abraham đã được Thiên Chúa đền đáp, cho ông trở nên tổ phụ một dân riêng của Thiên Chúa, và trở nên lời chúc phúc cho muôn thế hệ.

Chúa Giêsu xuống trần gian và đã sống như một người nghèo giữa những người nghèo; đã tuyên bố: Phúc cho những kẻ nghèo đói, phúc cho những kẻ đang khóc lóc, phúc cho những kẻ bị bách hại, Chúa Giêsu hẳn phải là người hạnh phúc nhất, vì Ngài đã đi đến tận cùng sự nghèo đói, bách hại ấy.

Nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, ta thấy Chúa đã không làm phép lạ cho trái đất luôn chảy sữa và mật, Ngài đã không đem lại một giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể nào; thế nhưng, cuộc sống, lời nói và cái chết của Ngài lại là chìa khóa giúp giải quyết các vấn đề của con người. Quả vậy, vấn đề cơ bản của con người là gì, nếu không phải là được sống hạnh phúc; tuy nhiên, sai lầm lớn nhất của mọi thời chính là nghĩ rằng càng có nhiều tiền của, quyền bính, danh vọng thì càng được hạnh phúc.

Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ giàu sang, no đủ, từ danh thơm tiếng tốt. Chúa Giêsu đưa chúng ta đi vào một thế giới khác, với lối đánh giá khác, làm chúng ta ngỡ ngàng. Ngài cho các môn đệ của Ngài biết rằng: họ là những người có phúc, khi phải chịu nghèo đói, đau khổ, bách hại vì Ngài. Nước Trời đã thuộc về họ từ đây, và hạnh phúc sẽ trọn vẹn trong ngày sau hết.

Chúa Giêsu đã sống những mối phúc trước chúng ta. Ngài là một người thợ thủ công nghèo, Ngài biết đến sự dày vò của cơn đói, Ngài đã từng nhỏ lệ trước thành Giêrusalem, và đã chịu mọi khổ hình cho đến chết. Nhưng Chúa Giêsu là con người hạnh phúc, vì biết mình luôn sống cho Cha và con người. Chúng ta cần có kinh nghiệm của Chúa Giêsu: Nghèo của cải mà thật giàu Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu quan niệm hạnh phúc rất khác biệt.

Hạnh phúc không là những cái có: Người ta thường dựa vào những cái người ta có để làm tiêu chuẩn đo lường hạnh phúc. Tuy nhiên, những cái người ta có rồi cũng sẽ mất đi. Thí dụ có nhiều tiền thì cũng có thể bị mất; có sức khỏe thì qua thời gian cũng yếu dần…Đối với Chúa Giêsu, hạnh phúc không là cái gì ta có được.

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, đang đói, đang phải khóc, bị oán ghét loại trừ…” Tiêu chuẩn hạnh phúc của Chúa rất ngược đời. Dĩ nhiên, Chúa không muốn chúng ta nghèo, bị đói, khóc lóc, bị oán ghét… nhưng Chúa muốn dạy cho chúng ta biết chấp nhận những gì xảy đến cho mình. Con đường để được hạnh phúc là con chấp nhận khó nhọc và khổ đau; hay nói cách khác là con đường thập giá. Vì chỉ có khi chấp nhận khó nhọc khổ đau, người ta mới có được hạnh phúc, như người nông dân muốn niềm vui trong mùa gặt phải bỏ công lao tác, thức khuya dậy sớm giữa mưa gió và nắng nóng.
Khi tuyên bố: "Phúc cho những kẻ nghèo khó", Chúa Giêsu không hề có ý muốn biến thế giới thành một thế giới nghèo đói, bần cùng. Của cải vật chất là phương tiện cần thiết để cho con người được sống xứng phẩm giá con người; Thiên Chúa đã tạo dựng con người để nó thống trị và hưởng dụng mọi sự trong vũ trụ. Khi tuyên bố: "Phúc cho những kẻ nghèo khó", Chúa Giêsu nhắc nhở cho con người bậc thang giá trị đích thực trong cuộc sống. Của cải vật chất là phương tiện, chứ không phải là cứu cánh của cuộc sống. Người nghèo khó như Chúa Giêsu đã từng sống là người sống theo bậc thang giá trị ấy. Người sống nghèo khó như Chúa Giêsu là người biết sống cho những giá trị vĩnh cửu, là yêu thương, quảng đại, liên đới, tình người.

Và rồi, đứng trước sự phú túc giàu sang của cuộc đời, Chúa dạy ta phải tránh tìm cho mình một lối sống dễ dãi: “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, đang được no nê, đang được vui cười, được mọi người ca tụng…”. Chúa không lên án của cải cũng như sự giàu có, nhưng Chúa cấm chúng ta chỉ lo tìm kiếm sự giàu có. Người hạnh phúc là người biết chấp nhận những gì xảy đến cho mình và an lòng với chúng trong cái nhìn đức tin. Nếu chúng ta chỉ lo tìm kiếm những gì dễ dãi, vui tươi thì chắc chắn có lúc sẽ thất vọng vì cuộc đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng.

Khốn cho những kẻ giàu có, những kẻ đang được no nê, những kẻ đang vui cười. Đức Giêsu báo trước cho họ biết rằng: điều đang làm cho họ thỏa mãn lại là điều không chắc chắn. Tình trạng đầy đủ làm cho con người đóng kín với chính mình, thỏa mãn với những gì đang có, và quên đi rằng họ đang chuẩn bị cho mình một tương lai đầy u tối và đớn đau. Chính thái độ thỏa mãn này ngăn cản họ mở lòng ra trước Tin Mừng, trước lời loan báo về một thế giới mới.

Thật vậy, muốn trở thành những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, có lẽ ta phải lắng nghe những lời chúc phúc và chúc dữ này, đồng thời áp dụng vào đời sống của chính mình. Có lẽ ta cần thường xuyên xem xét đâu là những giá trị thực sự đem lại bình an và hạnh phúc. Những mối phúc và những mối khốn, là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh để ta có được hạnh phúc đích thực, và chỉ một mình Thiên Chúa mới mang lại cho ta hạnh phúc đó.

Huệ Minh


                                        
Thời giờ là của Chúa    08/09/2016

Sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ, vị ẩn tu mới nói:

– Có một tù binh nọ bị giam giữ nhiều năm trong một căn phòng chật hẹp và tối tăm. Khi ông được trả tự do, một nhà hảo tâm nọ tặng cho ông một mảnh đất có sẵn một túp lều. Con người đã từng bị giam giữ lâu năm trong một căn phòng chật hẹp dĩ nhiên đón nhận túp lều và ngôi vườn chẳng khác nào như một thiên đàng. Giờ đây ông có thể đi lại tự do, tha hồ chiêm ngắm trăng sao, thưởng thức mọi thứ và muôn vàn điều vui thích do thiên nhiên mang lại. Nhưng chỉ sau một năm, trong đầu ông nảy ra một ý nghĩ: chả lẽ suốt cuộc đời mình phải chôn chặt trong một túp lều và khu vườn nhỏ bé này sao?Nghĩ thế, ông miệt mài làm việc kiếm tiền để xây dựng một ngôi nhà lớn hơn và tậu một khu vườn cũng lớn hơn. Nhưng căn nhà và khu vườn mới cũng chẳng làm cho ông thỏa mãn, ông lại miệt mài làm việc đêm ngày để nới rộng căn nhà và mua thêm đất đai. Nhưng cuối cùng, điều đã xảy ra cho mọi người thì cũng đến với ông: khi ông nhắm mắt xuôi tay, người ta cũng chỉ dành cho ông đúng bốn tấm ván mà thôi.

Nghe đến đây, người tu sĩ thắc mắc:

– Con không hiểu tại sao cha lại kể cho con nghe câu chuyện này, đời con hoàn toàn khác với đời người tù trên đây.

Vị ẩn tu giải thích:

– Nhưng con lại không muốn hiểu câu chuyện ấy. Cha muốn đặt để câu chuyện ấy vào trong trái tim của con như một hạt giống, nó sẽ mọc lên và sinh hoa trái.

Vị tu sĩ trẻ vẫn chưa hiểu hết ẩn ý của người cha tinh thần.  

– Thưa cha, xin cha cho con biết một cách cụ thể: con phải làm gì?

Vị ẩn tu liền nói:

– Vậy thì con hãy làm theo điều ta dạy, và con sẽ tìm được sự bình an: từ nay, cứ sau mỗi giờ kinh, con đọc thêm một đoạn Tin Mừng theo Thánh Matthêu, và sau một tuần lễ đến gặp ta. Sau một tuần làm theo lời khuyên của vị ẩn tu, người tu sĩ trẻ lại càng thất vọng hơn, bởi vì anh không còn thì giờ dành riêng cho mình nữa.

Dù vậy, vị ẩn tu vẫn ra lệnh cho anh cứ sau một giờ đọc kinh, đọc thêm một cuốn sách Tin Mừng hay một lá thư của Thánh Phaolô. Sau một tuần nữa, thầy lại trở lại. Lần này, ngoài các bài đọc trong Kinh Thánh, vị ẩn tu còn ra lệnh cho thầy phải dành mọi buổi sáng để đi thăm viếng và mang thức ăn, nước uống đến cho những người đang sống một mình.

Sau một thời gian khá lâu, người tu sĩ trẻ trở lại với vị ẩn tu. Với một niềm vui rạng rỡ trên gương mặt, Thầy thốt lên:

– Thưa cha, bây giờ con mới cảm nghiệm được rằng: thời giờ của con là của Chúa, mà bởi tất cả những gì của Chúa là của con, cho nên lúc nào con cũng cảm thấy có đủ thời giờ.

Lạy Chúa, tất cả nhưng gì của Chúa là của con. Xin cho con biết làm mọi sự vì Chúa:

 – Chỉ có Chúa mới có thể ban đức tin, nhưng con có thể làm chứng cho đức tin ấy.

– Chỉ có Chúa mới có thể ban niềm hy vọng, nhưng con có thể tin tưởng nơi người anh em của con.

– Chỉ có Chúa mới có thể ban tình yêu, nhưng con có thể dạy cho người khác yêu thương.

– Chỉ có Chúa mới có thể ban hòa bình, nhưng con có thể xây dựng sự hiệp nhất.

– Chỉ có Chúa mới có thể ban sức mạnh, nhưng con có thể nâng đỡ những người yếu đuối.

– Chỉ có Chúa mới là con đường, nhưng con có thể làm cho ánh sáng ấy bừng lên trong ánh mắt của mọi người.

– Chỉ có Chúa mới là ánh sáng, nhưng con có thể làm cho ánh sáng ấy bừng lên trong ánh mắt của mọi người.

– Chỉ có Chúa mới là sự sống, nhưng con có thể mang lại cho người khác khát vọng được sống.

– Chỉ có Chúa mới có thể làm điều xem ra không thể làm được, nhưng con có thể làm điều có thể làm được.

Lạy Chúa, tất cả những gì của Chúa là của con. Xin cho con biết làm tất cả mọi sự vì Chúa. Amen.
 

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

HÃY CẦU NGUYỆN LUÔN


                             SUY NIỆM HẰNG NGÀY


THỨ BA SAU CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

NGÀY 6-9-2016


ngày sabát



Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 6: 12-19)

12 Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.14 Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô,15 Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Quá Khích,16 Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.17 Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn18 đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. Những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành.19 Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.


HÃY CẦU NGUYỆN LUÔN 

ngày sabát


Tin mừng Lc 6: 12-19

Trang Tin Mừng hôm nay nhắc nhớ chúng ta noi gương Chúa Giêsu trong việc cầu nguyện. Với gương của Chúa Giêsu, ta hãy sống gắn bó với Thiên Chúa nhiều hơn, đặc biệt khi cần quyết định, khi có những sự việc quan trọng phải lựa chọn, và trong tất cả những biến cố vui buồn của cuộc sống. Chớ gì ta biết đến với Thiên Chúa như một người Cha đầy yêu thương, như một người Thầy khôn ngoan thượng trí, như một người Bạn luôn sẵn sàng chia sẻ, để kín múc nghị lực và sức sống của Người cho mỗi ngày, để mỗi ngày sống của ta được ngập tràn tình yêu ân sủng Chúa và nên hoàn trọn theo thánh ý của Người.

Ta thấy mỗi lần Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện và cầu nguyện suốt đêm, chính là để chuẩn bị làm một việc hệ trọng. Giống như chúng ta đi tĩnh tâm, trong những thời điểm quan trọng trong hành trình làm người và nhất là trong hành trình ơn gọi. Trước khi Chúa Giêsu chọn mười hai vị mà Ngài gọi là Tông Đồ, có thể nói Người đã “tĩnh tâm” trước. Điều này có nghĩa là, ơn gọi của các tông đồ và ơn gọi của chính chúng ta, không phải là một chuyện may rủi, hay do nỗ lực “trụ lại bằng mọi giá”, nhưng là một việc hệ trọng đối với Chúa, Chúa phải chuẩn bị bằng một đêm cầu nguyện trên núi với Thiên Chúa Cha.

Cầu nguyện là một nhu cầu thiết yếu của đời sống con người. Nếu sách giáo lý công giáo định nghĩa: “Cầu nguyện là trò chuyện thân mật với Thiên Chúa”, thì Thánh kinh cho chúng ta thấy từ thuở hồng hoang, con người đã biết cầu nguyện. Sách Sáng thế ký kể lại rằng: Ngày ấy, vào những buổi chiều tà Thiên Chúa thường dạo cùng Adam để trò chuyện (St 3, 8).

Dù là tín ngưỡng nào, tự bản thân, con người vẫn ý thức thân phận mỏng dòn, giới hạn và thấy rằng mình cần cầu nguyện. Vì vậy mà con người đã có rất nhiều sáng kiến để bày tỏ lòng tôn sùng của mình với ‘Đấng ở trên cao’. Và đã có rất nhiều hình thức cầu nguyện trở thành lễ hội văn hóa của con người.

Chúa Giêsu ở trong hội đường giảng dạy và chữa bệnh; bây giờ Ngài lên núi để cầu nguyện. Đó chính là hai chiều kích làm nên chính cách sống của Chúa Giêsu, chiều kích hoạt động (hay làm việc) và chiều kích cầu nguyện. Và đó cũng là hai chiều kích làm nên đời sống của tất cả những ai đi theo Chúa Giêsu trong ơn gọi gia đình, và nhất là trong ơn gọi dâng hiến, dù đan tu hay tông đồ. Và quả thực, hàng ngày chúng ta vẫn sống theo nhịp sống của Chúa Giêsu: hoạt động và cầu nguyện đan xen nhau mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, mỗi giai đoạn huấn luyện và cả đời sống Kitô hữu và đời sống dâng hiến của chúng ta.

Qua những trang Tin Mừng, ta thấy Giêsu là một con người luôn luôn cầu nguyện, cho dù bận rộn, vất vả suốt ngày với đám đông trong hành trình rao giảng và chữa lành. Ngài là mẫu gương cầu nguyện cho người tín hữu chúng ta. Ngài cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc và đặc biệt Ngài thường lên núi cao hoặc lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện (Mc 1,15; 6,46; Lc 5,16; 6,12; Ga 6,15); điều đó cho thấy được Ngài là con rất mực hiếu thảo của Chúa Cha, luôn gắn bó mật thiết với Cha, trò chuyện cùng Cha, hỏi ý kiến Cha trong mọi quyết định của Người. Trình thuật tin mừng hôm nay kể lại Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện suốt đêm trước khi chọn 12 Tông đồ, những con người sẽ sát cánh bên Ngài trong sứ vụ loan báo Tin mừng nước trời, cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của biến cố.

Thật vậy, vì chính cộng đoàn 12 tông đồ này sẽ là hạt nhân của Giáo hội Người xây dựng giữa trần gian, là ‘cột trụ, là nền móng của thành thánh Giêrusalem trên trời, là những chứng nhân loan báo Tin mừng cứu độ cho mọi người.

Đôi khi, nhịp sống này đối với chúng ta trở thành nặng nề, nhất là cầu nguyện. Nhưng dưới ánh sáng cuộc đời của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi nhận ra đó là một ơn huệ, ơn huệ được trở nên giống Chúa ở mức độ đơn sơ nhưng thiết yếu nhất. Nhờ đó, chúng ta dễ dàng đi vào tâm tình tạ ơn và làm trổ sinh hoa trái trong đời sống của chúng ta.

Với nếp sống công nghiệp, đô thị hóa, con người, nhất là người trẻ thường nại vào cớ bận rộn không có thời gian để cầu nguyện, họ chủ trương: “có thực mới vực được đạo” để tránh cầu nguyện, để thoái thác bổn phận phụng thờ Thiên Chúa.

Hậu quả là các bậc cha mẹ trẻ không còn biết cầu nguyện cho nên không thể làm gương hoặc dạy con cái biết cầu nguyện, dẫn đến việc suy thoái trong đời sống đức tin, nhà thờ và gia đình tách rời nhau. Họ dễ phó mặc đời sống đức tin của con em cho ‘nhà xứ’ và không quan tâm đến việc giáo dục đức tin cho con em. Họ lo cho con cái có những kiến thức khoa học đời nhiều hơn là khoa học thánh. Việc giáo dục đức tin được xếp vào hàng thứ yếu. Thậm chí có những bậc cha mẹ không thèm đếm xỉa gì đến việc lo cho con em có đời sống đức tin.

Bởi vì chính bản thân họ cũng không còn đức tin. Cha mẹ không cầu nguyện, cũng không dạy cho con cái biết cầu nguyện, từ đó, dẫn đến tình trạng con người trống rỗng về đời sống tâm linh, các giá trị về luân lý đạo đức bị tuột dốc, con người tôn thờ vật chất, tin vào vật chất, cố gắng sao để hưởng thụ vật chất cho nhiều, đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa và những giáo huấn của Người dẫn đến biết bao điều xấu xa tệ nạn xảy ra trên hành tinh này, nơi thế giới, trong xã hội: môi trường suy thoái, chiến tranh, kỳ thị, ly dị, phá thai…

Cầu nguyện thực là quan trọng. Nhờ cầu nguyện ta được thần khí và sức sống của Thiên Chúa nuôi dưỡng tâm linh, được sự khôn ngoan của Người hướng dẫn; qua cầu nguyện, thánh ý Thiên Chúa được tỏ lộ, đồng thời ta nhận được sức mạnh và ân sủng giúp ta can đảm thực thi thánh ý của Ngài trong cuộc sống. Tuy nhiên, ngày nay, khi mà xã hội khoa học vật chất tiến bộ, thì niềm tin con người vào ‘Đấng trên cao’ dường như bị giảm sút. Người ta tin vào sức mạnh của đồng tiền, của quyền lực vốn dĩ rất chóng qua.

Chúa đã nói: “Không có thầy các con không thể làm chi được”, xin cho ta biết siêng năng cầu nguyện, biết đặt niềm tin tưởng ở nơi Chúa hơn là nơi vật chất, nơi người đời. Chúa luôn ở bên ta, lắng nghe ta và sẵn sàng đáp trả miễn là tâm hồn ta có đủ tĩnh lặng để nghe tiếng Chúa. Vì thế ta có thể cầu nguyện mọi lúc, mọi nơi, trên đường đi, trong công sở, hay lúc nghỉ ngơi. Chớ gì ta cảm nghiệm được tình yêu Chúa luôn trải rộng và thấm nhuận cuộc đời ta.


Huệ Minh



SUY NIỆM

Chúa chọn 12 Tông đồ sau một đêm thức trắng cầu nguyện, bởi Chúa biết tầm quan trọng về nhiệm vụ mà Chúa sẽ uỷ thác cho các ngài khi Chúa bỏ thế gian mà về cùng Cha.

Nhiệm vụ mà các Tông đồ sẽ lãnh nhận không gì hơn là tiếp tục sứ vụ của Chúa Kitô, sứ vụ loan báo về Vương quốc Thiên Chúa, và qui tụ những kẻ tin làm thành cộng đoàn trở thành dấu chỉ của Vương quốc đó, mà chúng ta gọi là Giáo Hội. Vâng, Giáo Hội có sứ mệnh “công bố và thiết lập Vương quốc của Chúa Kitô và của Thiên Chúa nơi mọi dân tộc”, và người ta có thể tìm thấy ánh sáng của Vương quốc ấy ngay chính trong đời sống của Giáo Hội.

Có thể nói Giáo Hội là một cộng đoàn mà nơi đó người ta tìm được niềm vui, sự hy vọng, bởi nói như Công đồng Vaticanô II: Giáo hội là cộng đồng thực sự cảm nghiệm được mối dây liên kết mật thiết với con người và lịch sử nhân loại, vì thế Giáo Hội ôm ấp lấy niềm vui và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người thời đại, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, và coi đó là niềm vui và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của chính mình. Cho nên, Giáo Hội phải luôn tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích các dấu chỉ ấy dưới ánh sáng Tin Mừng, để có thể  đưa ra câu giải đáp thích hợp với từng thế hệ cho những thắc mắc muôn thuở của con người về ý nghĩa cuộc sống hiện tại và mai sau, cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy. Giáo Hội thi hành nhiệm vụ không do bởi một tham vọng trần thế nào, nhưng chỉ là tiếp tục công việc của Chúa Kitô, Đấng đến trần gian để làm chứng cho chân  lý, để cứu rỗi chứ không để luận phạt, để phục vụ chứ không để được phục vụ. ( Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng).

Chúa Giêsu cầu nguyện suốt đêm trước khi chọn các tông đồ là vì thế, vì sứ vụ phục vụ này. Bởi Chúa hiểu, các tông đồ cũng chỉ là những con người mỏng dòn yếu đuối, cũng bị chi phối bởi tham sân si, và cũng phải đối diện với bao cám dỗ bởi danh vọng, tiền tài, và trong con người của các ông cũng đầy những tham vọng, định kiến.. Chúa cầu nguyện để các môn đệ không đánh mất căn tính của mình trước những cám dỗ của thế gian, để Giáo Hội mà các môn đệ là nền móng luôn là dấu chỉ của vui mừng và hy vọng. Người ta tìm thấy nơi Giáo Hội sự phục vụ chứ không là cai trị bởi quyền lực trần thế, tìm thấy lòng thương xót của người cha đầy bao dung, chư không là thẩm phán án đầy nghiêm khắc.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con hiểu được ơn gọi của người Kitô hữu, cũng là ơn gọi làm tông đồ để chúng con tiếp tục vãi gieo yêu thương của Chúa, tiếp tục loan báo niềm hy vọng bằng chính cuộc đời dấn thân phục vụ của chúng con. Ame
n




1.

13 lên,3 xuống  

đặc tính


d. Tính chất riêng, không giống với tính chất các sự vật khác. Thích cái mới, cái lạ là đặc tính của tuổi trẻ.
Nguồn: vdict.com

2.

5 lên,2 xuống  

đặc tính


d. Tính chất riêng, không giống với tính chất các sự vật khác. Thích cái mới, cái lạ là đặc tính của tuổi trẻ.
Nguồn: informatik.uni-leipzig.de

3.

6 lên,3 xuống  

Đặc tính


tính chất riêng, không giống với tính chất các sự vật khác đặc tính của văn xuôi hiểu được đặc tính của từng giống cây trồng
Nguồn: tratu.soha.vn

4.

5 lên,5 xuống  

đặc tính


Tính chất riêng, không giống với tính chất các sự vật khác. | :''Thích cái mới, cái lạ là '''đặc tính''' của tuổi trẻ''.
Nguồn: vi.wiktionary.org

5.

1 lên,10 xuống  

đặc tính


lakkha (trung), lakkhana (trung)
Nguồn: phathoc.net